Ngày đăng

ĐIỀU TRỊ BỆNH LOÃNG XƯƠNG

ĐIỀU TRỊ BỆNH LOÃNG XƯƠNG

Là tình trạng giảm khối lượng xương và tổn thương vi cấu trúc của mô xương gây hậu quả xương giòn dễ dẫn tới gãy xương. Điều trị loãng xương không hồi phục được những tổn hại trước đó mà có thể làm ngừng tiến triển của bệnh. Mục đích của điều trị là ngăn ngừa cho tế bào xương không bị mất thêm và tránh cho xương bị gãy. Điều trị làm giảm sự mất xương bao gồm tăng can xi qua chế độ ăn và thuốc uống.

Điều trị loãng xương không dùng thuốc

Cần duy trì một chế độ ăn uống đầy đủ, đa dạng, hợp lý phù hợp với nhu cầu của cơ thể trong từng giai đoạn, từng lứa tuổi, từng thói quen sinh hoạt.
Chế độ ăn của người Việt Nam nói chung là thiếu Canxi. Sữa và các sản phẩm từ sữa (bơ, phô mai..) rất giàu Canxi cần được bổ sung vào chế độ ăn hàng ngày của người Việt. Có khoảng 300mg Ca trong 1 ly sữa hoặc yaourt (227g),hoặc thỏi phô mai 16 ao-xơ ( 453g)
Ở người có tuổi cần đặc biệt quan tâm đến các thành phần khoáng chất (nhất là canxi) và protid trong khẩu phần ăn, vì ở người có tuổi khả năng ăn uống và hấp thu các chất dinh dưỡng, khoáng chất đều bị hạn chế. Chính vì vậy sữa là một loại thức uống lý tưởng để cung cấp cả canxi và protid cho người có tuổi. Lượng sữa cần thiết mỗi ngày từ 500 – 1000 ml (có thể là sữa tươi, sữa chua hoặc sữa pha từ sữa bột).
Cần duy trì một chế độ sinh hoạt đa dạng, năng động: vận động thể lực đều đặn, vừa sức, tăng cường các hoạt động thể lực ở ngoài trời. Việc vận động thường xuyên vừa có ích cho toàn cơ thể (hệ tim mạch, hệ hô hấp, hệ thống tiêu hóa…) vừa tác dụng tốt trực tiếp cho hệ thống xương cơ khớp, chống thoái hóa và chữa bệnh loãng xương (do tăng cường hoạt động của tế bào sinh xương, tăng cường hấp thu calci và protid).
Đối với người lớn tuổi cần hết sức tránh bị té ngã vì gãy xương sẽ rất dễ xảy ra, khi gãy lại rất khó liền. Việc bất động để điều trị gãy xương không những làm cho loãng xương nặng thêm mà còn là nguy cơ của nhiều bệnh lý khác do nằm lâu.

Sữa giúp bổ sung canxi trong xương
Sữa giúp bổ sung canxi trong xương

Cách chữa bệnh loãng xương dùng thuốc

Tây y chữa bệnh loãng xương chủ yếu với các thuốc chống hủy xương và thuốc tái tạo xương nhằm kìm hãm quá trình xương phân hủy, thúc đẩy quá trình tái tạo xương, hấp thu canxi tốt hơn.

* Thuốc chống hủy xương:

Đây là nhóm thuốc quan trọng nhằm làm giảm hoạt tính của tế bào hủy xương và làm giảm chu chuyển xương.
Nhóm hormone và các thuốc giống hormone như Oestrogen, Progesteron, Tibolol Raloxifene có tác dụng ức chế hoạt động của tế bào hủy xương.
Nhóm hormone sinh dục nam như Testosterone thường dùng để phòng ngừa và điều trị bệnh loãng xương ở nam giới sau khi tắt dục.
Nhóm Bisphosphonates như Etidronate, Risedronate, Alendronate, Clodronate, Pyrophosphate, Tiludronate… có tác dụng tăng khối lượng và tăng độ cứng cáp của xương, giảm thiểu nguy cơ gãy xương.
Calcitonin là chuỗi acid amin chiết xuất từ cá hồi với tác dụng chống huỷ xương, giúp giảm đau do xương bị hủy và làm giảm chu chuyển xương.

* Thuốc tái tạo xương:

Parathyroid Hormon: được công nhận là có tác dụng tăng tạo xương hiệu quả.
Calcium và vitamin D: cung cấp dưỡng chất cho quá trình tái tạo xương mới, kích thích tế bào xương hoạt động hiệu quả hơn. Ngoài ra, vitamin D còn giúp quá trình hấp thu canxi được tốt hơn.
Các thuốc tăng đồng hóa tăng cường hoạt tính của tế bào tái tạo xương và tăng cường chuyển hóa protein.
Calcium và vitamin D: để cung cấp nguyên liệu cho việc tạo xương mới, kích thích hoạt động của tế bào sinh xương.
+ Vitamin D hoặc chất chuyển hóa Vitamin D giúp cho việc sử dụng Calcium hiệu quả hơn.

Calcium và vitamin D tốt cho điều trị bệnh loãng xương
Calcium và vitamin D tốt cho điều trị bệnh loãng xương

+ Calcium nhằm cung cấp những nguyên vật liệu để bổ xung cho xương khi mà chế độ ăn không đáp ứng đủ hoặc khi cơ thể không hấp thu đầy đủ.
Bổ sung Calcium: 800mg/ngày cho trẻ em 1 – 10 tuổi.
1000mg/ngày cho người lớn, phụ nữ tiền mãn kinh, sau mãn kinh sử dụng estrogen.
1200mg/ngày cho thiếu niên và người trẻ tuổi (11 – 24).
1500mg/ngày cho phụ nữ sau mãn kinh không dùng estrogen.
1200mg – 1500mg/ngày cho phụ nữ có thai và cho con bú.
Tổng lượng Calcium dùng hàng ngày không quá 2500mg.
Các thuốc hủy xương và tái tạo xương đều có chức năng qua lại giống nhau và được sử dụng cho người bệnh loãng xương dưới sự hướng dẫn và chỉ định chặt chẽ của các bác sĩ chuyên khoa.

Cách phòng ngừa bệnh loãng xương hiệu quả

Tập thể dục: Đây là một trong những biện pháp quan trọng nhất để ngăn ngừa tình trạng loãng xương. Theo như các nghiên cứu gần đây, vận động hợp lý có tác dụng trong việc ngăn ngừa sự suy giảm canxi dẫn đến loãng xương. Đặc biệt là đối với những người làm việc lâu bên máy vi tính, những người ít vận động cần thay đổi lối sống, tập thể dục thường xuyên để nâng cao sự dẻo dai của xương khớp. Các bài tập như đi bộ, chạy, bơi lội, yoga có thể giúp bạn tránh nguy cơ bị loãng xương khá hiệu quả.

Tập thể dục hàng ngày phòng bệnh loãng xương
Tập thể dục hàng ngày phòng bệnh loãng xương

Ăn ít muối: Muối cần thiết cho cơ thể nhưng nó cũng làm tăng sự bài tiết lượng canxi trong nước tiểu và mồ hôi, gây thiếu canxi trong xương, dẫn đến tình trạng loãng xương. Đặc biệt là ở những người mắc bệnh tăng huyết áp lượng canxi đào thải trong nước tiều càng lớn, do đó cần kiểm soát tốt lượng muối ăn hàng ngày vào cơ thể.
Hạn chế đồ uống có ga: Một số nghiên cứu cho thấy rằng thay vì uống sữa, những người thường xuyên uống soda, coca sẽ làm suy yếu xương và gia tăng bệnh loãng xương. Trẻ nhỏ nếu uống nhiều nước có ga sẽ làm chậm quá trình phát triển của xương, dẫn đến còi xương.
Hạn chế đồ uống chứa caffeine: Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng những người uống bốn tách cà phê mỗi ngày sẽ tăng nguy cơ gãy xương hơn những người khác. Đặc biệt, sử dụng nhiều đồ uống chứa chất kích thích còn ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ canxi của cơ thể, khiến cho sự đào thải canxi diễn ra nhanh hơn.
Nói không với thuốc lá: Hút thuốc lá thụ động cũng làm tăng nguy cơ loãng xương nhiều lần với sự hình thành của các khối xương yếu.
Bổ sung canxi: Canxi là khoáng chất cần thiết cho việc cấu thành xương và nó cũng góp phần ngăn chặn sự loãng xương, giảm mật độ xương trong cơ thể. Người lớn trung bình cần 1g canxi mỗi ngày. Bạn có thể bổ sung canxi từ sữa hay các chế phẩm của sữa, ăn thêm các loại tôm, cua, cá béo, các loại rau củ quả như cải bó xôi, súp lơ xanh, táo…

Nói không với thuốc lá và cafe
Nói không với thuốc lá và cafe

Chỉ số khối lượng cơ thể BMI quá thấp, vóc dáng gầy, nhỏ bé cũng có thể thúc đẩy tình trạng loãng xương. Thông thường, nên duy trì chỉ số BMI từ 18,5-23, do đó những người tầm vóc nhỏ bỏ nên điều chỉnh lại chế độ dinh dưỡng thường ngày để bổ sung thêm canxi và dinh dưỡng cho cơ thể.

[ST]

Ngày đăng

TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH LOÃNG XƯƠNG

TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH LOÃNG XƯƠNG

Loãng xương có nghĩa là “xương xốp” xương trở nên yếu và dễ gãy – giòn hoặc thậm chí động tác nhẹ như cúi xuống hay ho có thể gây ra gãy xương. Trong nhiều trường hợp, xương yếu đi khi canxi và các khoáng chất khác trong xương thấp.

Các dấu hiệu và triệu chứng bệnh loãng xương

Quá trình loãng xương được ví như những tên ăn cắp vặt giấu mặt, mỗi ngày một chút, chúng lấy dần đi các khoáng chất của bộ xương. Lúc đầu, người bệnh không cảm thấy khó chịu vì bệnh diễn biến thầm lặng, không có dấu hiệu nào rõ ràng, có chăng chỉ là một vài triệu chứng đau, nhức, mỏi không cố định, có khi mơ hồ, vu vơ ở cột sống lưng, ở dọc các chi, ở các đầu xương,… Càng về sau, khi khối lượng khoáng chất bị mất ngày càng nhiều, các triệu chứng đau nhức nêu trên sẽ rõ ràng dần lên, tập trung nhiều hơn ở các vùng xương chịu lực của cơ thể như hông, thắt lưng, khớp gối. Loãng xương thông thường sẽ đi kèm với bệnh thoái hóa khớp, đây cũng là bệnh thường gặp ở người có tuổi. Tình trạng loãng xương sẽ làm cho quá trình thoái hóa khớp nặng thêm, và quá trình này cũng làm cho bệnh loãng xương nặng nề hơn.

Đau xương: Đau nhức các đầu xương. Đau nhức, mỏi dọc các xương dài. Đau nhức như châm chích toàn thân. Thường đau ở vùng xương chịu gánh nặng của cơ thể (cột sống, thắt lưng, xương chậu, xương hông, đầu gối), đau nhiều lần nếu là sau chấn thương, đau âm ỉ nếu là tự phát. Đau sẽ tăng lên khi vận động, đi lại, đứng ngồi lâu và sẽ thuyên giảm khi nằm nghỉ.
Đau cột sống, đau như thắt ngang cột sống: Đau cột sống thường kèm theo co cứng các cơ dọc cột sống gây đau, giật cơ khi thay đổi tư thế. Lúc nằm người bệnh thường cảm thấy dễ chịu hơn.
Cột sống sẽ biến dạng đường cong bình thường, như gù, vẹo, còng lưng, chiều cao của cơ thể giảm vài cm so với tuổi lúc còn trẻ (bởi loãng xương làm cho các đốt sống bị lún, xẹp hoặc bị gãy lún).
Gãy xương: cổ tay, xương hông, cổ xương đùi do giảm mật độ xương làm xương dễ gãy.
– Khi đau nhiều các cơ cạnh cột sống sẽ co cứng, nên bệnh nhân khó thực hiện các động tác như: cúi, ngửa, nghiêng người, quay người, cột sống như cứng đờ.
Dấu hiệu loãng xương toàn thân thường gặp là hay bị chuột rút, vọp bẻ, thường ra mồ hôi, đầy bụng chậm tiêu, nặng ngực khó thở.
Thường gặp kèm theo các rối loạn khác của tuổi già (béo bệu, giãn tĩnh mạch chân, thoái hóa khớp, cao huyết áp, vữa xơ mạch máu…).
Biểu hiện lâm sàng có thể xuất hiện đột ngột sau một chấn thương nhẹ ( ngã, đi xe đường quá sóc…), có thể xuất hiện từ từ tăng dần.
Khi đã có các triệu chứng lâm sàng rõ ràng nêu trên thì khối lượng xương của cơ thể thường đã giảm khoảng 30% trở lên. Lúc này, nếu chụp X-quang thì trên phim thường có thể thấy rõ hiện tượng loãng xương như: xương tăng thấu quang, vỏ xương bị mỏng đi, các đốt sống bị biến dạng, lún xẹp hoặc gãy lún.

Loãng xương hiếm khi gây ra dấu hiệu hay triệu chứng cho đến khi bệnh nặng, do vậy những trường hợp sau đây được khuyến cáo kiểm tra mật độ xương:

– Phụ nữ già hơn 65 tuổi hoặc đàn ông lớn hơn tuổi 70, bất kể yếu tố nguy cơ.
– Loãng xương ở phu nữ mãn kinh có nguy cơ cao.
– Đàn ông từ 50 – 70 tuổi, có ít nhất một yếu tố nguy cơ loãng xương.
– Lớn hơn tuổi 50 với lịch sử gãy xương.
– Người phải uống thuốc, chẳng hạn như prednisone, chất ức chế aromatase hoặc thuốc chống động kinh, có liên quan đến loãng xương.
– Phụ nữ sau mãn kinh vừa mới ngừng điều trị hoóc môn.
– Phụ nữ trải qua thời kỳ mãn kinh sớm.
Kết quả có thể khác tùy theo cơ địa từng người.

[ST]

Ngày đăng

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ LOÃNG XƯƠNG

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ LOÃNG XƯƠNG

Loãng xương là một trong những bệnh lý phổ biến, nhất là ở những người cao tuổi trong xã hội hiện nay. Bệnh thể hiện ở sự giảm khối lượng xương và thay đổi kiến trúc vi mô của mô xương, làm tăng khả năng gãy xương và nứt xương.

Nguyên nhân gây loãng xương

– Do tuổi cao và mãn kinh. Phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh bị loãng xương nhiều gấp 3- 4 lần nam giới. Cơ thể phụ nữ mất tối đa 10% khối lượng xương ngay trong năm đầu mãn kinh và 2% cho những năm sau đó. Nguyên nhân chính là do giảm estrogen.
– Do một số bệnh như: cường tuyến cận giáp, đái tháo đường tuýp I, cường tuyến thượng thận… Một số thuốc gây loãng xương như thuốc thay thế giáp trạng, điều trị lâu dài bằng corticosteroid, phenobarbital, lithium, heparin, phenytoin.
– Một số yếu tố nguy cơ gây loãng xương: nghiện rượu, thuốc lá, dinh dưỡng ít calci, ít hoạt động thể lực, tiền sử gia đình bị loãng xương, bất động lâu ngày.

Triệu chứng của bệnh loãng xương

Loãng xương là một bệnh diễn biến âm thầm, ban đầu bệnh nhân không có triệu chứng đau nên thường chủ quan, bỏ qua. Nhưng càng về sau sự thiếu hụt chất canxi ngày càng gia tăng dẫn tới xương xuống cấp nghiêm trọng gây loãng, xốp xương,…Lúc này những triệu chứng đau nhức xương sẽ rõ rệt hơn. Người bệnh có cảm giác đau lưng, đau các khớp chân, tay và mỏi bại hông, đặc biệt ở các khớp xương chịu lực mạnh như xương sống, khớp gối, khớp cổ chân, cổ tay.
Cảm giác đau nhức xương khớp nặng hơn rõ rệt vào ban đêm. Ngoài đau nhức xương, mệt mỏi, người bệnh còn có một số triệu chứng khác đi kèm như chuột rút.
Kết quả có thể khác tùy theo cơ địa từng người.

<Còn tiếp>

[ST]

Ngày đăng

BỔ SUNG VITAMIN D CHO TRẺ SƠ SINH, NHỮNG ĐIỀU CHA MẸ PHẢI NHỚ!

BỔ SUNG VITAMIN D CHO TRẺ SƠ SINH, NHỮNG ĐIỀU CHA MẸ PHẢI NHỚ!

Vitamin D rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ sơ sinh. Vậy mẹ đã biết cách bổ sung vitamin D cho trẻ sơ sinh phát triển khỏe mạnh chưa?

Vitamin D là một vi chất dinh dưỡng cần thiết nhưng lại rất dễ bị thiếu hụt, ngay cả ở những người trưởng thành hay trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, mẹ cần cân nhắc trước khi quyết định bổ sung vitamin D cho trẻ, đặc biệt là đối với trẻ sơ sinh trong giai đoạn đầu đời.

Một trong những nguồn vitamin D tốt nhất là ánh sáng mặt trời. Đó là lý do tại sao các bà mẹ được khuyên nên đem bé con ra tắm nắng. Tuy nhiên, không phải ngày nào cũng có nắng đẹp, và có thể bé yêu của bạn có làn da quá nhạy cảm đòi hỏi bạn phải tìm một nguồn thay thế như thực phẩm hay các dung dịch uống.

Bổ sung vitamin D cho trẻ sơ sinh là việc rất cần thiết, bất cứ cha mẹ nào cũng nên làm.

Để bổ sung vitamin D cho trẻ sơ sinh, trước hết, cha mẹ cần phải hiểu, nguyên nhân thiếu vitamin thật ra là do đâu?

Đầu tiên, đó là nguyên nhân do quá trình tắm nắng: Do trẻ không không được phơi nắng sáng, trẻ chỉ cần 5 -30 phút phơi nắng vào buổi sáng từ 7 – 8 h sẽ giúp trẻ có được 90% nhu cầu vitamin D.

Thứ 2, đó là vấn đề dinh dưỡng: trẻ sinh non, trẻ bú mẹ nhưng mẹ bị thiếu vitamin D.

Trẻ bị bệnh về gan, thận, trẻ đang sử dụng một số thuốc như thuốc động kinh (phenobarbital, phenytoin), kháng viêm corticosteroid ( prednison, prednisolon) vì chúng làm mất, cản trở tác dụng của vitamin D.

Vì sao bé cần vitamin D?

Thiếu vitamin D có thể dẫn tới bệnh phổi và còi xương. Những người bị thiếu vitamin D, bao gồm cả trẻ sơ sinh đứng trước nguy cơ bị các căn bệnh như bệnh tim, cúm, ung thư, loãng xương, đa xơ cứng…

Vitamin D giúp tăng cường hệ miễn dịch và giúp cơ thể chống lại các căn bệnh nhiễm trùng hay bệnh mãn tính. Bổ sung vitamin D đúng liều lượng còn giúp bộ não hoạt động tốt hơn, làm cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể diễn ra mạnh mẽ hơn và giúp giữ cân nặng ở mức hợp lý.

Cách bổ sung vitamin D cho trẻ sơ sinh:

Cần bổ sung vitamin D với hàm lượng: 10 mcg (hay 400 UI) mỗi ngày cho các bé sơ sinh bú mẹ, bổ sung cho tới khi trẻ có chế độ ăn cung cấp đủ nhu cầu vitamin D. Đối với các bé sơ sinh không thể tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời mỗi ngày (ở xứ lạnh nhiều sương mù), cần bổ sung vitamin D với lượng 800 UI/ngày.

Nếu bé bú loại sữa đã có bổ sung vitamin D thì không cần cho uống thêm vitamin D. Nếu một trẻ khỏe mạnh, có chế độ ăn uống hợp lý, được phơi nắng đầy đủ thì không cần bổ sung thêm vitamin D hằng ngày.

Học viện Nhi Khoa Hoa Kỳ khuyến cáo rằng: đối với trẻ bú mẹ và trẻ bú sữa công thức nhưng ngày uống dưới 1lít thì cần bổ sung 400UI/ ngày, ngay từ lúc mới sinh.

Khi bé lớn hơn và đã bắt đầu ăn dặm, mẹ có thể sử dụng các thực phẩm giàu vitamin D để bổ sung cho bé như các loại cá biển béo (cá hồi chẳng hạn), trứng và các loại ngũ cốc ăn dặm. Tuy nhiên, nhiều bé không chịu ăn các loại thực phẩm này cho đến khi được 1 tuổi.

[ST]

Ngày đăng

CÔNG DỤNG CỦA DẦU TỎI VỚI SỨC KHỎE

CÔNG DỤNG CỦA DẦU TỎI VỚI SỨC KHỎE

Dầu tỏi có rất nhiều công dụng với sức khỏe có thể bạn chưa biết:

Giảm đau tai: Các thuộc tính kháng khuẩn và chống viêm của dầu tỏi không chỉ giúp làm sạch ráy tai mà còn trị các triệu chứng đau tai do ho và cảm lạnh. Bạn chỉ cần làm ấm vài giọt dầu tỏi và nhỏ vào tai để loại bỏ đau tai.

Kiểm soát cholesterol: Dầu tỏi không chỉ giúp ức chế tăng cholesterol máu mà còn giảm mảng xơ vữa xuất hiện ở động mạch chủ vốn là nguyên nhân dẫn tới xơ vữa động mạch, bệnh tim và bệnh động mạch vành.

Điều trị nấm móng: Dầu tỏi đóng vai trò như một phương thuốc tự nhiên điều trị nấm móng. Ngâm một miếng bông trong dầu tỏi và thoa nó lên móng bị nấm. Allicin, một thành phần kháng nấm trong tỏi có tác dụng ức chế sự tăng trưởng nấm, do vậy hỗ trợ trong việc điều trị nhiễm nấm một cách tự nhiên.

Giảm nguy cơ các biến chứng bệnh thận và tiểu đường: Một nghiên cứu năm 2003 chỉ ra rằng sử dụng dầu tỏi trong 15 ngày có cải thiện đáng kể hoạt động của gan và thận. Ngoài ra, nó cũng ngăn chặn các biến chứng sức khỏe do bệnh tiểu đường như võng mạc tiểu đường, bệnh thận và bệnh thần kinh.

Giúp kiểm soát insulin: Sử dụng 100mg dầu tỏi/1kg trọng lượng cơ thể 2 ngày/lần trong 3 tuần cho thấy tăng đáng kể tốc độ bài tiết insulin. Nó cũng làm tăng độ nhạy insulin và cải thiện kiểm soát đường huyết.

Giảm tổn thương oxy hóa gây ra do nicotine và lipid peroxidation.

Ức chế sản sinh khối u

Bôi dầu tỏi 3 lần/tuần lên da sẽ có tác dụng ức chế sản sinh khối u và cũng làm giảm nguy cơ nhiễm trùng. Tuy nhiên, tác dụng này phụ thuộc vào liều dầu tỏi.

Nếu bạn muốn tự tay làm hãy thử theo cách sau: Bỏ vài nhánh tỏi đã bóc vào dầu (mù tạt, dầu oliu nguyên chất, hạt mọc trên đất) và đun sôi khoảng 10-15 phút. Làm lạnh và bảo quản trong hộp kín trong một hoặc hai tuần.

Tonic shop hiện có: DẦU TỎI KHÔNG MÙI CENOVIS 150 VIÊN

[ST]